ĐÀO TẠO CỬ NHÂN ĐỊNH HƯỚNG GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC- ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2023-2026: MỘT HƯỚNG ĐI PHÙ HỢP VỚI ĐỔI MỚI GIÁO DỤC, NHU CẦU XÃ HỘI VÀ XU THẾ QUỐC TẾ

Ngày: 28/09/2026

Sau ba năm triển khai, các chương trình đào tạo định hướng giáo viên của Trường Đại học Khoa học- Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) đã hình thành một hướng phát triển có bản sắc: giữ vững nền tảng của chương trình cử nhân chuyên ngành, đồng thời chuẩn bị có hệ thống cho người học về năng lực nghề nghiệp giáo dục, ngoại ngữ, STEM, năng lực số, trí tuệ nhân tạo và khả năng thích ứng với Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Mô hình này phù hợp với hành lang pháp lý, quy định hiện hành của Việt Nam, đồng thời tương thích với mô hình đào tạo giáo viên đang được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tọa đàm sơ kết đào tạo các chương trình định hướng giáo viên ngày 21/8/2026 đã khẳng định giá trị của hướng đi đúng đắn, đồng thời thống nhất một chương trình hành động tích cực nhằm nâng cao chất lượng đầu ra, tăng cường thực hành nghề, mở rộng hợp tác với các trường phổ thông và tạo điểm nhấn về năng lực giảng dạy bằng tiếng Anh sau khi tốt nghiệp.

1. Từ yêu cầu thực tiễn đến một lựa chọn chiến lược của Nhà trường
Trong tiến trình đổi mới giáo dục phổ thông, câu chuyện chuẩn bị đội ngũ giáo viên chất lượng không còn được nhìn theo một mô hình duy nhất. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực chuyên môn, năng lực thiết kế hoạt động học, kiểm tra đánh giá, ứng dụng công nghệ, giáo dục STEM, năng lực ngoại ngữ và khả năng tổ chức môi trường học tập phát triển phẩm chất, năng lực người học. Song song với đó, thực tiễn tuyển dụng tại nhiều địa phương và cơ sở giáo dục tiếp tục cho thấy nhu cầu bổ sung, đa dạng hóa nguồn giáo viên cho các môn học ở bậc trung học vẫn hiện hữu. Trong bối cảnh ấy, việc mở rộng nguồn cung nhân lực từ những cử nhân có nền tảng khoa học chuyên ngành vững chắc, và được chuẩn bị thêm về nghiệp vụ sư phạm và năng lực nghề giáo, là một lựa chọn có cơ sở thực tiễn đúng đắn và rõ ràng.

Từ những trao đổi trực tiếp với cơ quan quản lý giáo dục và các trường phổ thông trong giai đoạn trước năm 2023, Trường Đại học Khoa học- ĐHTN đã nhận diện sớm khoảng giao nhau giữa hai nhu cầu: một mặt xã hội cần những cử nhân khoa học cơ bản có khả năng làm việc ở nhiều lĩnh vực; mặt khác hệ thống giáo dục cần những người có chuyên môn sâu, chuyên ngành, có thể tiếp tục hoàn thiện nghiệp vụ sư phạm và tham gia giảng dạy. Trên cơ sở đó, Đề án phát triển các chương trình đào tạo định hướng giáo viên được phê duyệt năm 2023 và trở thành một trong những hướng đổi mới căn bản chuyển mình quan trọng trong công tác đào tạo của Nhà trường.

Khái niệm “định hướng giáo viên”, đây không phải là việc đổi tên các chương trình cử nhân khoa học thành chương trình sư phạm, cũng không đồng nhất với mô hình đào tạo giáo viên tích hợp của các trường đại học sư phạm, mà người học vẫn được đào tạo và cấp bằng cử nhân theo ngành/chuyên ngành tương ứng; trong quá trình học, chương trình và phương thức tổ chức đào tạo được thiết kế theo hướng ưu tiên thêm một lộ trình nghề nghiệp trong lĩnh vực giáo dục. Chính đặc điểm này đã tạo nên độ mở: sinh viên sau tốt nghiệp vừa có thể tham gia các vị trí nghề nghiệp phù hợp với ngành cử nhân, vừa có thể hoàn thiện các điều kiện về nghiệp vụ sư phạm để dự tuyển vào các vị trí giáo viên theo quy định.

2. Phù hợp với hành lang pháp lý, quy định của Việt Nam và xu thế đào tạo giáo viên trên thế giới
Cơ sở pháp lý hiện hành cho thấy mô hình cử nhân chuyên ngành kết hợp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là một trong những con đường chính thức để tham gia nghề giáo. Thông tư số 12/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình và quy định việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho người có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp có nguyện vọng trở thành giáo viên trung học cơ sở, trung học phổ thông. Chương trình bồi dưỡng được cấu trúc theo khối học phần chung, khối học phần theo cấp học và có yêu cầu thực hành, thực tập tại trường phổ thông. Điều này cho phép một cử nhân chuyên ngành phù hợp hoàn thiện năng lực nghề giáo theo một chuẩn bồi dưỡng thống nhất, thay vì bắt buộc phải quay trở lại học một chương trình cử nhân sư phạm thứ hai.

Đặc biệt, từ ngày 01/01/2026, Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn với quy định nhà giáo. Theo đó, Điều 28 của Luật đã quy định giáo viên tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông có thể đáp ứng trình độ chuẩn theo một trong hai hướng: có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên phù hợp với môn học, cấp học; hoặc có bằng cử nhân trở lên chuyên ngành phù hợp với môn học, cấp học và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm. Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT quy định đối với giáo viên THPT hạng III: có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên phù hợp hoặc có bằng cử nhân trở lên chuyên ngành phù hợp với môn học giảng dạy và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên THPT. Như vậy, xét về chuẩn trình độ đào tạo, tên gọi “bằng sư phạm” không phải là con đường duy nhất để trở thành giáo viên. Trọng tâm là sự phù hợp của chuyên môn với vị trí giảng dạy, năng lực sư phạm và việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện tuyển dụng cụ thể của vị trí việc làm.

Thực tiễn tuyển dụng giáo viên tại nhiều địa phương gần đây (năm 2026) cho thấy con đường “cử nhân chuyên ngành phù hợp + chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm” đã được áp dụng trong các thông báo tuyển dụng chính thức, chứ không chỉ tồn tại ở cấp quy định pháp luật. Chẳng hạn, Thông báo số 813/TB-SGDĐT ngày 13/02/2026 của Sở Giáo dục và Đào tạo Gia Lai về tuyển dụng viên chức trong các cơ sở giáo dục công lập xác định vị trí giáo viên THCS, THPT là các vị trí tuyển dụng chính thức trong hệ thống trường công lập; điều kiện dự tuyển được thực hiện theo chuẩn trình độ, chuyên ngành và nghiệp vụ tương ứng với vị trí việc làm. Tương tự, Thông báo số 3424/TB-SGDĐT ngày 17/10/2025 của Sở Giáo dục và Đào tạo Lai Châu về tuyển dụng viên chức các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở trong năm học 2025-2026 tiếp tục áp dụng cơ chế tuyển dụng giáo viên theo chuyên ngành phù hợp với môn học và yêu cầu về nghiệp vụ sư phạm. 

Điểm đáng chú ý là các thông báo tuyển dụng hiện nay không đặt điều kiện người dự tuyển bắt buộc phải tốt nghiệp từ một “trường đại học sư phạm” cụ thể. Trọng tâm là bằng cử nhân phù hợp với môn học/cấp học, năng lực nghề nghiệp và việc hoàn thành yêu cầu về nghiệp vụ sư phạm theo quy định. Điều này hoàn toàn phù hợp với Luật Nhà giáo và chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dành cho người có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp có nguyện vọng trở thành giáo viên THCS, THPT. Vì vậy, về phương diện pháp lý và thực tiễn tuyển dụng, cử nhân khoa học nếu có chuyên ngành phù hợp và được chuẩn bị đầy đủ nghiệp vụ sư phạm có cơ sở rõ ràng để tham gia dự tuyển giáo viên.

Từ góc độ đào tạo, đây là một căn cứ quan trọng khẳng định hướng phát triển các chương trình cử nhân định hướng giảng dạy của Trường Đại học Khoa học là phù hợp. Giá trị của mô hình không nằm ở việc thay thế chương trình đào tạo sư phạm truyền thống, mà ở việc tạo thêm một lộ trình nghề nghiệp hợp pháp và thực chất: nền tảng khoa học chuyên ngành vững + năng lực sư phạm + thực hành nghề + ngoại ngữ và công nghệ. Đây cũng là cách tiếp cận tương đồng với mô hình đào tạo giáo viên nối tiếp đang tồn tại tại nhiều quốc gia, trong đó người học hoàn thành bằng cử nhân chuyên ngành trước khi tiếp tục đào tạo nghề giáo và đáp ứng các yêu cầu chứng nhận hoặc tuyển dụng.

Ở bình diện quốc tế, kết quả nghiên cứu đối sánh với các trường đại học lớn trên thế giới cho thấy hai mô hình đào tạo giáo viên cùng tồn tại phổ biến. Mô hình thứ nhất là đào tạo đồng thời/tích hợp (concurrent), trong đó chuyên môn, khoa học giáo dục, phương pháp dạy học và thực tập được bố trí trong cùng một chương trình. Mô hình thứ hai là đào tạo nối tiếp cử nhân (consecutive/post-baccalaureate), theo đó người học hoàn thành bằng cử nhân chuyên ngành trước, sau đó học chương trình đào tạo nghề giáo và đáp ứng yêu cầu cấp phép/chứng nhận (hay còn gọi là chứng chỉ Nghiệp vụ sư phạm- NVSP). Tại Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản đều có những biến thể của lộ trình thứ hai. Chẳng hạn, Stanford Teacher Education Program tuyển người đã và đang vận hành theo hướng học để nhận bằng cử nhân, kết hợp với học NVSP và thực hành tại trường phổ thông. Vì vậy, lựa chọn của Trường Đại học Khoa học không phải là một mô hình ngoại lệ, mà nằm trong một dòng phát triển được quốc tế thừa nhận: chuyên môn môn học vững chắc đi cùng đào tạo nghề giáo và thực hành có giám sát chất lượng cao.

 
3. Hành trình 2023-2026: từ một đề án đến hệ thống chương trình có bản sắc
Từ khóa tuyển sinh năm 2023, Nhà trường bắt đầu triển khai các chương trình đào tạo theo định hướng giáo viên: Toán học, Toán tin, Vật lý, Hóa học, Văn học, Lịch sử - Địa lý và Kinh tế pháp luật, các năm tiếp theo, chương trình được mở rộng và điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, đồng thời bổ sung CTĐT Khoa học tự nhiên tích hợp STEM, Ngôn ngữ Anh định hướng giảng dạy; đến năm 2026 tiếp tục mở rộng với Sinh học và Địa lý học. Từ quá trình phát triển này cho thấy định hướng giáo viên không phải một hoạt động đơn lẻ của một ngành, mà đã dần trở thành một hệ sinh thái đào tạo liên ngành gắn với thế mạnh khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn, ngoại ngữ và công nghệ của Nhà trường.

Một điểm đáng chú ý là chương trình không chỉ đặt mục tiêu “học thêm nghiệp vụ sư phạm”, mà từng bước chuyển trọng tâm sang hình thành năng lực nghề nghiệp ngay trong quá trình đào tạo cử nhân khoa học. Ở các học phần chuyên ngành, yêu cầu kết nối kiến thức đại học với nội dung và yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ngày càng được quan tâm. Sinh viên được định hướng thiết kế kế hoạch bài dạy, xây dựng câu hỏi và công cụ đánh giá, trình bày nội dung chuyên môn dưới dạng học liệu trực quan, thực hiện các dự án STEM, khai thác công nghệ số và từng bước làm quen với hoạt động dạy học vi mô (microteaching). Cách tổ chức này giúp giảm khoảng cách giữa “biết kiến thức” và “biết chuyển hóa kiến thức thành hoạt động học tập cho học sinh”.

Đối với các ngành khoa học tự nhiên, việc đưa STEM/STEAM, thí nghiệm, mô phỏng, lập trình, trí tuệ nhân tạo và xử lý dữ liệu vào quá trình đào tạo đã tạo ra một lợi thế khác biệt. Một giáo viên trẻ khi mới hành nghề không chỉ giải đúng một bài toán hay trình bày đúng một định luật; họ cần biết tổ chức cho học sinh khám phá vấn đề, thiết kế thí nghiệm, đọc và xử lý dữ liệu, sáng tạo sản phẩm, phản biện kết quả và sử dụng công nghệ hiện đại một cách hiệu quả. Với nền tảng của một trường đại học khoa học đa ngành, liên ngành đây là không gian mà Nhà trường có thể tạo ra giá trị rõ rệt cho sinh viên định hướng nghề giáo.

Đối với nhóm khoa học xã hội và nhân văn, yêu cầu phát triển năng lực đọc hiểu, viết, nói, nghe, tư duy phản biện, khả năng thiết kế nhiệm vụ học tập và đánh giá bằng tiêu chí/rubric cũng được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng. Quan điểm xuyên suốt là chuyển từ đào tạo người “biết về môn học” sang đào tạo cử nhân có khả năng vận dụng tri thức chuyên ngành để tổ chức hoạt động giáo dục. Đây cũng là tinh thần nổi bật trong các tham luận chuyên môn tại Tọa đàm.

4. Năng lực giảng dạy bằng tiếng Anh - điểm nhấn có tính chiến lược
Một trong những đặc điểm đáng chú ý của các chương trình định hướng giáo viên tại Trường Đại học Khoa học- ĐHTN là mục tiêu phát triển năng lực ngoại ngữ và hướng tới khả năng sử dụng tiếng Anh trong học tập, nghiên cứu và giảng dạy chuyên môn. Đây không chỉ là một điểm cộng về tuyển dụng, mà ngày càng trở thành năng lực chiến lược của đội ngũ giáo viên trong bối cảnh hội nhập.

Định hướng này đặc biệt phù hợp với chủ trương phát triển của quốc gia. Kết luận số 91-KL/TW đã đặt yêu cầu từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; tiếp đó, Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045”. Khi tiếng Anh dần được sử dụng rộng hơn trong môi trường giáo dục, nhu cầu không chỉ dừng ở giáo viên tiếng Anh mà còn mở rộng tới đội ngũ giáo viên môn học có khả năng khai thác tài liệu quốc tế, giao tiếp chuyên môn, xây dựng học liệu song ngữ và từng bước triển khai một phần nội dung chuyên ngành bằng tiếng Anh.

Bởi vậy, mục tiêu đối với sinh viên Toán học, Vật lý, Hóa học và các lĩnh vực phù hợp cần được hiểu cao hơn việc đạt một chứng chỉ ngoại ngữ. Năng lực cần hướng tới là sử dụng được tiếng Anh học thuật và tiếng Anh chuyên ngành trong ngữ cảnh nghề nghiệp: giải thích khái niệm, hướng dẫn hoạt động, đặt câu hỏi, phản hồi cho người học, xây dựng kế hoạch học, khai thác tài nguyên số và thực hiện các microteaching bằng tiếng Anh. Khi làm được điều này, sinh viên tốt nghiệp sẽ có lợi thế rõ rệt ở các trường chất lượng cao, trường tư thục, trường liên cấp, môi trường song ngữ và quốc tế; đồng thời đáp ứng tốt hơn xu hướng phát triển của giáo dục phổ thông trong thập niên tới.

5. Cơ hội nghề nghiệp: lợi thế của một cử nhân khoa học có năng lực nghề giáo
Một lợi thế quan trọng của mô hình định hướng giáo viên là không thu hẹp tương lai nghề nghiệp của người học vào một lựa chọn duy nhất. Sinh viên tốt nghiệp vẫn là cử nhân của ngành khoa học tương ứng, có thể tiếp tục học sau đại học, làm việc trong nghiên cứu, doanh nghiệp, cơ quan chuyên môn, truyền thông, dữ liệu, công nghệ hoặc các lĩnh vực ứng dụng tùy theo ngành. Khi lựa chọn nghề giáo, người học có thêm lộ trình hoàn thiện chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm và các yêu cầu của vị trí tuyển dụng. Đây là cấu trúc nghề nghiệp linh hoạt, phù hợp với thị trường lao động hiện đại, nơi một bằng đại học cần tạo ra nhiều phương án phát triển thay vì chỉ gắn với một chức danh nghề nghiệp.

Đối với các cơ sở giáo dục phổ thông, một cử nhân có nền tảng chuyên môn sâu, được rèn luyện phương pháp dạy học, công nghệ, STEM và ngoại ngữ có thể đem lại giá trị khác biệt. Đặc biệt, trong bối cảnh các trường phổ thông chất lượng cao, trường tư thục, liên cấp và quốc tế ngày càng chú trọng năng lực sử dụng tiếng Anh, dạy học tích hợp, hoạt động dự án và chuyển đổi số, nhóm nhân lực này có cơ hội cạnh tranh tốt nếu thể hiện được năng lực thực hành nghề thực chất. Nhà trường không cấp “bằng sư phạm” cho các chương trình này; Nhà trường đào tạo cử nhân có định hướng giảng dạy và xây dựng lộ trình để người học đáp ứng chuẩn nghề nghiệp, chuẩn nghiệp vụ và yêu cầu tuyển dụng giáo viên theo quy định.

6. Kết luận
Ba năm từ 2023 đến 2026 là giai đoạn đặt nền móng và định hình bản sắc cho các chương trình đào tạo định hướng giáo viên của Trường Đại học Khoa học-ĐHTN. Kết quả quan trọng nhất không chỉ là sự quan tâm ngày càng lớn của người học, mà là việc Nhà trường đã xác lập được một hướng tiếp cận phù hợp với thế mạnh của mình: đào tạo cử nhân có nền tảng khoa học vững chắc, có độ mở nghề nghiệp, đồng thời chuẩn bị có chủ đích cho nghề giáo thông qua nghiệp vụ, thực hành, ngoại ngữ, STEM và công nghệ.

Trong bối cảnh Luật Nhà giáo đã xác lập rõ con đường “cử nhân chuyên ngành phù hợp + chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm”, Thông tư 12/2021/TT-BGDĐT tiếp tục tạo khung bồi dưỡng cho giáo viên THCS, THPT, và Đề án quốc gia về đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học đang bước vào giai đoạn triển khai, định hướng của Trường Đại học Khoa học có nền tảng pháp lý và dư địa phát triển rõ ràng. Nếu tiếp tục kiên trì với chất lượng đầu ra, tăng cường thực hành nghề nghiệp, xây dựng mạng lưới trường phổ thông đối tác và tạo điểm nhấn về giảng dạy bằng tiếng Anh, Nhà trường có cơ sở để hình thành một nguồn cử nhân vừa mạnh về chuyên môn, vừa có năng lực giáo dục hiện đại, đáp ứng nhu cầu nhân lực của các cơ sở giáo dục trong nước và môi trường giáo dục hội nhập.

Tọa đàm sơ kết ngày 21/8/2026 vì vậy không chỉ là một mốc đánh giá ba năm thực hiện Đề án, mà còn mở ra giai đoạn phát triển mới: từ “định hướng” sang “năng lực nghề nghiệp được minh chứng”; từ các hoạt động riêng lẻ sang một hệ sinh thái đào tạo gắn đại học với trường phổ thông; từ chuẩn ngoại ngữ sang năng lực sử dụng tiếng Anh trong nghề nghiệp; và từ mục tiêu mở rộng cơ hội việc làm sang khẳng định chất lượng đầu ra như lợi thế cạnh tranh lâu dài của Trường Đại học Khoa học -ĐHTN.

Tài liệu tham khảo chính
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Thông tư số 12/2021/TT-BGDĐT ngày 05/4/2021 ban hành chương trình và thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho người có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp có nguyện vọng trở thành giáo viên THCS, THPT.

2. Quốc hội (2025), Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, đặc biệt Điều 28 về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo.

3. Chính phủ (2026), Nghị định số 93/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà giáo.

4. Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 phê duyệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2045”.

5. Bộ Chính trị (2024), Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 về tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

6. Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên (2026), Kế hoạch, Báo cáo sơ kết 03 năm, các tham luận chuyên môn và Thông báo kết luận Tọa đàm sơ kết 03 năm triển khai các CTĐT định hướng giảng dạy.

7. Stanford Graduate School of Education, Stanford Teacher Education Program (STEP): chương trình sau cử nhân kết hợp đào tạo học thuật, thực hành tại trường phổ thông và teaching credential.

Một số hình ảnh buổi Tọa đàm

PGS.TS. Nguyễn Văn Đăng – Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học phát biểu chỉ đạo Tọa đàm

Ảnh chụp các đại biểu và thầy/cô giáo tham gia Tọa đàm

PGS.TS. Phạm Thế Chính- Phó Hiệu Trưởng phát biểu tại Tọa đàm

PGS.TS. Vũ Xuân Hòa – Trưởng phòng Đào tạo dẫn chương trình

PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Oanh- Phó trưởng phòng Đào tạo trình bày báo cáo Sơ kết 3 năm triển khai các chương trình đào tạo định hướng giáo viên

PGS.TS. Trịnh Thanh Hải trình bày tham luận

PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái trình bày tham luận 

ThS. Nguyễn Đình Huy-Giám đốc Trung tâm Tin học và Ngoại ngữ phát biểu